Ung thư buồng trứng biểu hiện và phương pháp điều trị

Ung thư buồng trứng là một trong những ung thư đường sinh dục hay gặp nhất ở phái nữ.


Ung thư buồng trứng biểu hiện và phương pháp điều trị

 Ở Mỹ thì đây là ung thư có xác xuất cao thứ hai sau ung thư thân tử cung và là ung thư đường sinh dục gây tử vong cao nhất cho con gái Mỹ1. Trên bao bì thì ung thư buồng trứng là ung thư đường sinh dục hay gặp thứ hai sau ung thư cổ tử cung, và đó cũng được ung thư đường sinh dục gây tử vong cao thứ hai sau ung thư cổ tử cung.
Về sinh học ung thư buồng trứng thì có một số điểm đáng quan tâm:

Nguy cơ ung thư liên hệ mật thiết đến sự tổn thương của niêm mạc buồng trứng mỗi lần rụng trứng.
Ung thư buồng trứng thường được chẩn đoán muộn khi bệnh đã lan tràn, gieo rắc vùng chậu và ổ bụng.
Điều trị ung thư buồng trứng yêu cầu đi đôi nhiều mô thức trị liệu, đây đây $cũng là phẫu trị, hóa trị và xạ trị.
Đặc điểm dịch tễ
Tại Việt Nam theo số liệu ghi nhận ung thư quần thể2 thì xuất độ ung thư buồng trứng năm 2000 ở Hà Nội là 4,4/100.000 dân và ở Thành phố Hồ Chí Minh là 3,7/100.000 dân.

Một số đất nước ở Bắc Mỹ và Bắc Âu, phái nữ có nguy cơ cao. Trái lại tỷ lệ thấp ở Nhật và các quốc gia đang tiến triển. Phụ nữ châu Phi ở Mỹ cũng có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn.

Ung thư buồng trứng có khả năng gặp ở phái nữ trẻ khoảng lứa tuối 14-15 nhưng tuổi trung bình của ung thư buồng trứng là khoảng 60 tuổi, gặp nhiều ở phái nữ hậu mãn kinh3, 5.

Sinh bệnh học
Nguyên nhân của carcinôm buồng trứng chưa được hiểu rõ ràng, nhưng nếu carcinôm buồng trứng hình như là tiến triển trên những cơ địa lạ lẫm:

Yếu tố nội tiết và tiền căn thai sản
Có những mối liên quan rõ mồn một giữa khí chất nội tiết và tiền căn thai sản với nguy cơ mắc carcinôm buồng trứng như4:

Sinh đẻ ít và kinh thưa. Phụ nữ đã có lần mang thai sẽ giảm nguy cơ ung thư buồng trứng xuống 2 lần.
Dùng thuốc kích thích rụng trứng, mới lạ khi áp dụng ăn gian chiều cao.
Thuốc ngừa thai: nhiều tìm hiểu cho thấy thuốc ngừa thai dạng uống có công dụng gìn giữ đáng kể đối với carcinôm buồng trứng. Nguy cơ mắc carcinôm buồng trứng ở những phái đẹp này chỉ bằng một nửa so với những con gái không ứng dụng, công dụng bảo quản này cao hơn hơn chục năm sau khi ngưng tận dụng.
Chế độ dinh dưỡng
Chế độ ăn nhiều mỡ làm tăng năng khiếu mắc carcinôm buồng trứng: những người có mạng lưới ăn nhiều chất có lactose như sữa mà thiếu men galactose-1-phosphate uridyltransferase có tăng nguy cơ mắc carcinôm buồng trứng.
Vitamin A và C mặc dù có chức vị giữ gìn.
Yếu tố môi trường
Trong một số khảo sát cho thấy phái đẹp tiếp xúc với bột talc qua bao cao su hoặc giấy làm cho khô có tăng nguy cơ mắc bệnh carcinôm buồng trứng. Tỷ lệ carcinôm buồng trứng cao ở những người có tiền căn dùng phấn thơm ở vùng sinh dục hơn những người không ứng dụng4.
Mối liên quan giữa tia bức xạ ion và carcinôm buồng trứng còn nhiều tranh luận. Chưa có minh chứng rõ mồn một về mối liên quan giữa virus và carcinôm buồng trứng, nhưng có nhiều tìm hiểu đã cho thấy $ảnh hưởng của virus như cúm, rubella, quai bị đối với carcinôm buồng trứng.
Ảnh hưởng của khí chất di truyền
Carcinôm buồng trứng có tính chất di truyền. Carcinôm buồng trứng di truyền thường xảy ra sớm hơn 10 năm so với carcinôm buồng trứng không có tính di truyền, thế nhưng tiên lượng hình như là tốt hơn4, 5.

Hội chứng ung thư vú-buồng trứng người thân thường lan tỏa tới liên hệ phả hệ bậc 1 và 2. Hội chứng này hay gặp ở phái nữ trẻ, bướu buồng trứng thường ở 2 bên. Ở những phái đẹp này, nguy cơ bị mắc ung thư buồng trứng tăng gấp 2 đến 4 lần so với đám đông. Locus gen tham dự trên chromosome 17 của gen BRCA14, 5
Hội chứng Lynch II: carcinôm tuyến ở nhiều cơ quan, hiện lên đồng thời ung thư ở đại tràng, buồng trứng, nội mạc tử cung, vú và những ung thư khác của đường sinh dục4, 5
Các tìm hiểu dịch tễ học cho thấy người bị ung thư vú có tần suất bị ung thư buồng trứng cao gấp 2 lần người khác và ung thư buồng trứng có tần suất bị ung thư vú cao gấp 3, 4 lần4, 5

Giải phẫu bệnh
Phân chia bướu buồng trứng về mặt vi thể dựa trên bắt nguồn tạo mô:

Bướu có bắt nguồn từ biểu mô
Ung thư bao gồm các loại:

Bướu dịch thanh
Bướu tuyến bọc dịch trong
Bướu dịch trong giáp biên
Carcinôm tuyến bọc dịch trong
Bướu dịch nhầy
Bướu tuyến bọc dịch nhầy
Bướu dịch nhầy giáp biên
Carcinôm tuyến bọc dịch nhầy
Carcinôm dạng nội mạc tử cung
Carcinôm tuyến tế bào sáng
Bướu Brenner
Carcinôm không biệt hoá
Trong đó:

75% carcinôm buồng trứng có giải phẫu bệnh là carcinôm tuyến bọc dịch trong
20% carcinôm buồng trứng có giải phẫu bệnh là carcinôm tuyến bọc dịch nhầy
2% carcinôm buồng trứng là carcinôm tuyến tế bào sáng
1% carcinôm buồng trứng là bướu brenner
1% carcinôm buồng trứng là carcinôm kém biệt hoá
Bướu mầm bào
Bướu nghịch mầm
Carcinôm phôi
Bướu đa phôi
Bướu xoang nội bì
Bướu nguyên bào nuôi
Bướu quái ác tính không tuổi mới lớn
Bướu tế bào mầm hỗn hợp
Bướu có xuất xứ từ dây sinh dục
Bướu tế bào hạt và tế bào vỏ
Bướu tế bào hạt
Bướu tế bào vỏ
Bướu sợi
Bướu tế bào Sertoli-Leydig
Bướu nguyên bào sinh dục
Bướu không được xếp loại
Bướu do di căn
Đặc điểm lâm sàng của carcinôm buồng trứng
Khó chịu ở bụng, cảm giác nặng bụng, đầy bụng và bụng chướng là những biểu hiện lâm sàng phổ biến của carcinôm buồng trứng, hơn nữa cũng chắc hẳn gặp những biểu hiện lâm sàng khác là xuất huyết âm đạo, biểu hiện lâm sàng đường tiêu hoá như đi cầu bón, khó đi cầu do bướu lớn chèn ép vào thành trực tràng và đường tiết niệu như tiểu lắt nhắt....

Khi thăm khám, nếu là bướu lớn có khả năng sờ được trên bụng, bướu nhỏ nằm trong tiểu khung thì phải thăm khám âm đạo biến tấu với khám bụng. Khi ấy sẽ thấy: khối bướu tròn, chắc, căng, gõ đục, ở giữa, trước hay cạnh tử cung, di động hay ít di động, độc lập với tử cung, bướu chắc hẳn xâm lấn vùng chậu hay không. Một số trường hợp bệnh nhân được $phát hiện không cố ý lúc khám tổng quát.

Ở trẻ con, biểu hiện lâm sàng phổ biến là đau bụng, bụng sưng to, khối bướu vùng chậu.

Chẩn đoán

Chẩn đoán ung thư buồng trứng dựa trên việc khám lâm sàng và các phương tiện cận lâm sàng.

Các biểu hiện lâm sàng của ung thư buồng trứng đã nói đến ở mục trên. Một số biểu hiện tips bệnh ác tính, đây đều là bướu xâm lấn vùng chậu, báng bụng, bệnh nhân sụt cân, thiếu máu,...


Về cận lâm sàng, chẩn đoán ung thư buồng trứng dựa trên các phương tiện sau:

Siêu âm bụng chậu
Giúp chẩn đoán khối bướu buồng trứng, khi nghi ngờ trên khám lâm sàng có khả năng tiến hành siêu âm vùng chậu qua ngã bụng và qua ngã âm đạo.

Siêu âm cho phép chẩn đoán khối bướu buồng trứng dựa vào những chất lượng liên tưởng đến ác tính. Trong tổng thể các trường hợp, siêu âm bắt buộc phải rõ mồn một, chuẩn nhất và tuyệt đối: kỹ thuật ứng dụng, thời kì nào của các bước kinh nguyệt, địa vị tổn thương, một hay hai bên buồng trứng, kích cỡ và thiết kế khối bướu (dịch đồng nhất, hỗn hợp dịch và đặc, đặc đồng nhất...). Khi siêu âm cần nói đến: độ dày của thành, vách ngăn, chồi nhú trong nang hoặc ngoài nang, có tràn dịch màng bụng hay tụ dịch vùng douglas, hạch phì đại...

CT scan và MRI
CT scan ấn tượng rất tốt khi chụp có thuốc cản quang đường uống hay đường tĩnh mạch. Nó cho phép nhận xét hạch sau phúc mạc ở vùng cạnh động mạch chủ và sự gieo rắc trong xoang phúc mạc và mạc treo ruột. Tuy nhiên đối với ung thư buồng trứng ở thời kì sớm, CT scan thường không mang đến những thông tin nào ngoài siêu âm cho nên chẳng cần tiến hành một cách thường qui.

MRI cũng được chỉ định trong một số trường hợp độc nhất: khối bướu có kích thước lớn, bệnh nhân quá mập, con gái có thai, siêu âm có nhiều vấn nạn phức tạp.

Các chứng cứ sinh học
CA-125
CA-125 là epitope cacbohydrate, kháng nguyên ung thư glycoprotein, một chứng cứ sinh học của bướu trong huyết thanh.

CA-125 như thường cùng góp phần ở lá phôi trong dẫn xuất từ biểu mô mầm, bao gồm phúc mạc, màng phổi và màng ngoài tim và màng ối. Biểu mô buồng trứng không biểu hiện hoạt tính CA-125.

Mức CA-125 trong huyết thanh là khí chất trọng đại trong việc phê bình khối bướu vùng chậu, lạ lẫm đối với carcinôm buồng trứng. Mức CA-125 trong huyết thanh liên hệ chặt chẽ với sự áp đảo của bướu, sự giải quyết với trị liệu và sự tái phát.

Mức CA-125 > 60u/ml giúp loại trừ những bệnh nhân không có bướu hoặc bướu lành với độ đặc hiệu là 98%, nhưng độ nhạy của xét nghiệm chỉ là 70% và giá trị tiên đoán chỉ đạt 2% khi tầm soát ở công chúng.

CA-125 được đo bằng các xét nghiệm miễn dịch, có nồng độ thông thường trong huyết thanh < 35 u/ml. Chỉ có 1% người bình hay có ca-125 > 35u/ml. 80% bệnh nhân bị carcinôm buồng trứng loại biểu mô không tiết nhầy có nồng độ ca-125 tăng cao5.

CA-125 có khả năng tăng cao trong 50% trường hợp ung thư buồng trứng thời kì I và trong 60% trường hợp ung thư buồng trứng thời kì II5.

Các bằng chứng sinh học khác
M-CSS: là một cytokine được tiết ra bởi tế bào carcinôm buồng trứng.
OVX1: là một kháng nguyên glycoprotein có trọng lượng phân tử cao.
Một số các minh chứng sinh học khác đã được ứng dụng và khảo sát nhưng kết quả không vui hơn các kháng nguyên lúc đầu, đó cũng được: LASA, CA54-61, CA 72-4, CA-195, CA-50...
Xếp thời kì
Ung thư buồng trứng được xếp thời kì theo FIGO (Federation Internationale de Gynecology et d'Obstetric)

Giai đoạn I: khu trú ở buồng trứng
Giai đoạn IA: một buồng trứng, không báng bụng, không có bướu trên bề ngoài buồng trứng, vỏ bao buồng trứng còn nguyên
Giai đoạn IB: cả hai buồng trứng, không báng bụng, không có bướu trên bề ngoài, vỏ bao còn nguyên
Giai đoạn IC: IA hoặc IB kèm bướu trên bề mặt của một hoặc hai buồng trứng, hoặc vỏ bao vỡ, hoặc báng bụng có chứa tế bào ác tính trong dịch rửa phúc mạc
Giai đoạn II: bướu ở một hoặc hai buồng trứng có thêm ăn lan vùng chậu
Giai đoạn IIA: ăn lan và/hoặc di căn tử cung và/hoặc vòi trứng
Giai đoạn IIB: ăn lan các mô khác của vùng chậu
Giai đoạn IIC: IIA hoặc IIB kèm bướu trên bề mặt của một hoặc hai buồng trứng, hoặc vỏ bao vỡ hoặc báng bụng có chứa tế bào ác tính, hoặc dịch rửa phúc mạc
Giai đoạn III: bướu ở một hoặc hai buồng trứng lan tới ruột non, di căn mạc nối trong vùng chậu hoặc trong phúc mạc, các hạch sau phúc mạc, hạch bẹn, di căn bề mặt gan
Giai đoạn IIIA: khu trú ở vùng chậu, hạch (-) nhưng vi thể có ăn lan phúc mạc
Giai đoạn IIIB: khu trú một hay hai buồng trứng, ăn lan phúc mạc không quá 2 cm đường kính, hạch (-)
Giai đoạn IIIC: ăn lan phúc mạc > 2 cm đường kính và hoặc hạch bẹn hay hạch sau phúc mạc (+)
Giai đoạn IV: di căn xa, tràn dịch màng phổi tế bào học (+), di căn nhu mô gan...
Share on Google Plus

About Emma Shop

0 nhận xét:

Đăng nhận xét